Vừa rồi bên ủy ban bắt báo cáo về tài sản cố định, kiểm tra lại thì các đơn vị báo cáo mỗi nơi mỗi kiểu không thống nhất, coi lại QĐ19 thì cái phần báo cáo này quá sơ sài, nghe nói bên Bộ tài chính có phần mềm quản lý tài sản cố định, có chi tiết hơn tý nhưng hiện một số cái không còn phù hợp. Mình hiện không rõ hệ thống báo cáo tài sản cố định gồm những mẩu nào,bác nào có thì cho mình xin với, càng chi tiết thì càng tốt, để mình cho các đơn vị làm. Mình có vào google tìm được cái này, nhưng tức điên vì cái phần quan trọng không thấy đâu, bác nào biết thì cho em xin luôn cái quyết định mới nhất:
Hệ thống thông tin báo cáo tài sản nhà nước khu vực hành chính sự nghiệp: Thực trạng và giải pháp
Theo quy định của Luật Dân sự, tài sản Nhà nước có phạm vi rất rộng, ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Các quy định về quản lý từng loại tài sản Nhà nước nằm ở nhiều đạo luật. Tuy nhiên, chỉ còn tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (tạm gọi chung là khu vực hành chính sự nghiệp) chưa có luật điều chỉnh.



Tại thời điểm 1998, theo số liệu chưa đầy đủ, tổng giá trị tài sản cố định khu vực hành chính sự nghiệp là 280 nghìn tỷ đồng, trong đó: Đất là 229.217 ha, có giá trị 210.052 tỷ đồng; nhà làm việc có tổng diện tích 65,878 triệu m2, trị giá 81.482 tỷ đồng; phương tiện vận tải chiếm khoảng 2,2% tổng trị giá tài sản cố định; tài sản cố định khác chiếm khoảng 7,6% tổng giá trị tài sản cố định khu vực hành chính sự nghiệp. Để có được thông tin tổng quan, cũng như chi tiết về tình hình tài sản nêu trên, Nhà nước phải áp dụng nhiều biện pháp như tổng kiểm kê, báo cáo, kê khai đăng ký... Trong đó chế độ báo cáo là một biện pháp thường xuyên, giúp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên kiểm tra, kiểm soát được tình hình quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước; nắm hiện trạng tài sản Nhà nước hiện có, số tăng, giảm trong kỳ báo cáo; tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước từ đó có biện pháp tăng cường quản lý, hoạch định, xây dựng chính sách, chế độ quản lý tài sản nhà nước.



Công tác quản lý công sản là lĩnh vực mới, phức tạp, nhạy cảm, các đề án cơ chế chính sách về tài sản công đều là những vẫn đề mới phát sinh trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế. Từ 1995 đến nay, đã dần hình thành được chế độ báo cáo. Song chế độ báo cáo chủ yếu mang tính tự phát, chưa thường xuyên, liên tục và đặc biệt chưa có chế độ báo cáo các loại tài sản Nhà nước thống nhất trên phạm vi cả nước, có giá trị pháp lý cao; cũng như chưa có chế tài xử lý đối với trường hợp không báo cáo, báo cáo không đầy đủ, báo cáo chậm hoặc báo cáo sai.



Giai đoạn trước năm 2006



Về tài sản là nhà, đất thuộc trụ sở làm việc của các đơn vị hành chính sự nghiệp, chế độ báo cáo được gắn với các quy định về quản lý, sử dụng trụ sở làm việc tại Quyết định số 20/1999/QĐ - BTC ngày 25/2/1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Theo đó, hàng năm, các cơ quan hành chính sự nghiệp được Nhà nước giao quản lý, sử dụng trụ sở làm việc thực hiện báo cáo theo trình tự: cơ quan hành chính sự nghiệp trực tiếp quản lý, sử dụng trụ sở làm việc có trách nhiệm báo cáo tình hình quản lý, sử dụng quỹ trụ sở làm việc hiện có của đơn vị mình cho cơ quan quản lý cấp trên. Các bộ, cơ quan khác ở trung ương tổng hợp tình hình quản lý, sử dụng trụ sở làm việc của toàn ngành mình báo cáo Bộ Tài chính. Sở Tài chính tổng hợp tình hình quản lý, sử dụng trụ sở làm việc trên địa bàn báo cáo ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tài chính. Báo cáo trên tập trung các chỉ tiêu: tổng diện tích nhà đất, diện tích nhà đất đang sử dụng vào các mục đích, loại nhà, nguyên giá và giá trị còn lại của nhà trên sổ sách kế toán... chưa có các chỉ tiêu về tăng (đầu tư xây dựng mới, tiếp nhận, nâng cấp, sửa chữa), giảm (thanh lý, bán, chuyển giao, cải tạo, sửa chữa). Ngoài ra theo Quyết định số 55/2000/QĐ - BTC ngày 19/4/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính yêu cầu Bộ, ngành, địa phương báo cáo kết quả thu hồi, điều chuyển, thanh lý tài sản Nhà nước, trong đó tập trung một số chỉ tiêu như: Về loại tài sản (nhà làm việc, công trình vật kiến trúc...); kết quả thu hồi, điều chuyển thanh lý; số thu về thu hồi, điều chuyển, thanh lý; chi phí thu hồi, điều chuyển, thanh lý; số tiền nộp ngân sách Nhà nước.



Về tài sản là ô tô của các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp. Thời điểm trước khi Thủ tướng chính phủ ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô áp dụng cho khu vực hành chính sự nghiệp, thì chế độ báo cáo Bộ Tài chính quy định tại Công văn số 404 TC/QLCS ngày 18/2/1998. Theo đó chỉ tiến hành xem xét, tổng hợp và gửi về Bộ Tài chính nhu cầu mua xe ô tô cho các cơ quan hành chính sự nghiệp do các Bộ, ngành và địa phương quản lý đối với các trường hợp có đầy đủ các điều kiện: Đã có báo cáo kết quả kiểm kê, đánh giá lại tài sản cố định; có nhu cầu mua xe ô tô để trang cấp cho các đối tượng chức danh có tiêu chuẩn sử dụng xe ô tô riêng; cơ quan, đơn vị mới thành lập; đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bố trí đủ kinh phí mua xe ô tô trong dự toán ngân sách Nhà nước được giao.



Tiếp theo năm 2005, Bộ Tài chính có công văn số 2879 TC/QLCS về báo cáo tình hình mua sắm, trang bị và sử dụng tài sản hành chính sự nghiệp đề nghị các Bộ, ngành, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Sở Tài chính các tỉnh tổng hợp số liệu và báo cáo đánh giá về tình hình quản lý tài sản Nhà nước khu vực hành chính sự nghiệp nhằm có cơ sở thực hiện tổng hợp, đánh giá tình hình quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước, gồm ô tô phục vụ công tác và trụ sở làm việc để báo cáo cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; theo đó các đơn vị trên phải báo cáo thường xuyên về tình hình mua sắm mới, thanh lý, điều chuyển xe ô tô, các vi phạm và xử lý các vi phạm trong mua sắm, sử dụng xe ô tô của các đơn vị hành chính sự nghiệp; báo cáo thường xuyên về tình hình quản lý, sử dụng, bố trí, sắp xếp trụ sở làm việc.

(Còn nữa)
Cái phần tiếp theo bác nào có thì cho em cái. Thank